Tag - bệnh ở gà

Những Điều Chưa Biết Về Bệnh Gà Rù, NIU-CÁT-XƠN

[catlist id=1,5]

Bệnh gà rù là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất ở gà với các biểu hiện đặc trưng của nhiễm trùng huyết, rối loạn tiêu hóa và hệ thần kinh. Trước đây người ta gọi bệnh này là dịch tả gà (Pestis Avium), ngày nay người ta gọi là Niu-cát-xơn (Newcastle disease).

bệnh Gà rù

Nguyên nhân gây bệnh là do virut Myxo gây ra. Gà ở mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh. Ở các loài thủy cẩm như ngan vịt không mắc bệnh này nhưng chúng mang theo trùng Niu cát xơn. Bênh có thể bùng phát bất cứ thời điểm nào trong năm, tuy nhiên mùa đông là mùa cao điểm nhất.

Triệu chứng của Bệnh Gà Rù

Bệnh gà rù có 5 thể biểu hiện: quá cấp tính, cấp, dưới cấp, mãn tính và thể không điển hình. Trong thực tế chúng tôi tạm chia ra 3 thể: thể phát nhanh (thể quá cấp và cấp tính), thể trung bình (dưới cấp) và thể phát chậm (thể mãn tính và thể không điển hình).

1. Thể phát nhanh

– Gà bỏ ăn, ủ rũ, buồn ngủ, mào thâm, rù, tiêu chảy phân xanh hoặc xanh trắng, thở khó, thở khò khè đôi khi sặc khoẹt kèm theo tiếng toóc, nước mũi chảy dàn dụa, nước mắt, nước dãi chảy dài kéo thành sợi, diều chứa thức ăn không tiêu và nhiều hơi khí.

– Ở gà đẻ thấy giảm đẻ, có nhiều trứng non, vỏ mềm, kích thước nhỏ, gà gầy sút nhanh và chết rất nhanh, chết mỗi ngày một tăng, tỷ lệ chết lên đến 100%.

2. Thể phát trung bình.

– Các biểu hiện chủ yếu là ho hen sặc khoẹt, gà rất khó thở, phải rướn dài, rướn cao cổ để hít khí, tiếng toóc thưa thớt.

– Gà đi tiêu chảy phân xanh, phân xanh trắng, ăn uống kém, diều chứa đầy hơi hoặc chất lỏng, gầy rộc, mào thâm, xung quanh lỗ huyệt bẩn do phân xanh trắng bám dính.

– Gà bệnh bị liệt chân, liệt cánh, ngoẹo đầu, ngoẹo cổ khiến gà không ăn uống được, gầy sút nhanh và chết. Gà chết mỗi ngày một tăng, tỷ lệ chết lên đến 60-70%.

3. Thể phát chậm

– Đây là thể bệnh thường xảy ra ở những đàn gà đã được dùng vacxin Lasota hoặc ND-IB thậm chí đã tiêm H1 hoặc Clone 45 để phòng bệnh, nhưng đáp ứng miễn dịch chưa đủ.

– Lúc đầu, gà bệnh xuất hiện lác đác trong đàn với biểu hiện giảm hoặc bỏ ăn, trong khi nhìn tổng thể cả đàn không thấy triệu chứng bệnh, nhưng mỗi ngày số gà ốm cứ tăng dần.

– Các biểu hiện chủ yếu là ho hen sặc khoẹt, loặc xoặc giống như CRD.

– Sau đó, nhiều gà ốm bắt đầu tiêu chảy loãng, phân xanh trắng, xung quanh lỗ huyệt bẩn, chân mỏ khô quắt, lông xơ, chúng đứng lẻ loi, mắt nhắm nghiền rụt cổ hoặc nằm tụm đống vào một góc chuồng, mào thâm hoặc thâm xám.

– Trong đàn phần lớn gà vẫn ăn uống bình thường thì đêm nào cũng có gà chết, chúng chết lác đác, rải rác lúc đầu vào ban đêm, sau tăng dần và chết cả vào ban ngày, xác chết gầy, ướt, thịt thâm, mào thâm tím.

– Đối với gà đẻ, tỷ lệ đẻ giảm nhẹ dần theo thời gian và có nhiều trứng non, kích thước nhỏ, đôi khi gà đẻ ra không có vỏ cứng, dễ rách vỡ.

Mổ khám phát hiện bệnh.

– Bóp mỏ thấy dịch nhầy mũi chảy ra.

– Mào thâm, xác gà gầy, ướt, bẩn, có nhiều phân xanh, xanh trắng bám đầy xung quanh lông lỗ huyệt.

– Viêm khí quản, khí quản chứa nhiều nhầy.

– Diều chứa nhiều hơi, thức ăn không tiêu.

– Viêm xuất huyết dạ dày tuyến, ruột non, van hồi manh tràng, niêm mạc hậu môn.

– Viêm túi khí. Túi khí đục hoặc có nhiều Fibrin bám dính.

– Viêm xuất huyết thoái hóa buồng trứng, ống dẫn trứng.

– Trứng non dập vỡ gây viêm dính phúc mạc.

Điều trị bệnh gà rù

– Thực hiện đồng thời 2 bước sau:

Bước 1: Can thiệp ngay vacxin vào đàn gà bệnh
– Đối với gà dưới 20 ngày tuổi đã có tiếp xúc với nguồn bệnh, chưa được phòng vacxin thì tốt nhất nên tiêu hủy.

– Đối với gà dưới 20 ngày tuổi chưa tiếp xúc với nguồn bệnh: Nhỏ mắt, mũi, mồm vacxin Lasota hoặc ND-IB (sau đó cho uống thuốc ở bước 2) rồi chuyển đến nơi an toàn nuôi tiếp. Sau 10 ngày cho uống lại Lasota hoặc ND-IB lần 2, sau 15 ngày nữa thì tiêm H1.

– Đối với gà từ 20-30 ngày tuổi đã được dùng 1 lần lasota: cho uống lại Lasota hoặc ND-IB. Sau 10 ngày tiêm Newcastle H1 hoặc Clone 45.

– Đối với gà từ 30 ngày tuổi trở lên mới dùng 1-2 lần Lasota hoặc ND-IB, chưa tiêm H1 hoặc đã tiêm H1 thì phải tiêm ngay vacxin Newcastle H1.

Bước 2: Sau khi được dùng vacxin, đàn gà bệnh phải được dùng toa thuốc theo 1 trong các phác đồ sau:
* Phác đồ 1:
– T.Cúm gia súc: 20g
– T.Colivit: 20g
– Super-Vitamin: 20g
Cả 3 loại thuốc trên pha chung vào 15-20 lít nước cho 100kg gà uống trong cả 1 ngày, dùng 4 ngày liên tục.

* Phác đồ 2:
– Anti – Gum: 20g
– T. Avimycin: 20g
– Doxyvit. Thái: 20g

Cả 3 loại thuốc trên pha chung vào 15-20 lít nước cho 100kg gà uống trong cả 1 ngày, dùng 4 ngày liên tục.
* Phác đồ 3
Ta thay T. Colivit bằng một trong các loại thuốc sau: T. Flox.
C, T. Umgiaca, T.I.C; Tydox. TA; Anti-CRD.LA; Flumex.30…

Phòng bệnh gà rù

– Phải nghiêm túc giữ gìn vệ sinh chăn nuôi thú y trong khu chăn nuôi theo quy định chăn nuôi an toàn sinh học.

– Phải nghiêm cấm việc tiếp xúc, thăm nom các cơ sở chăn nuôi khác và ngược lại.

– Phải áp dụng sơ đồ, lịch dùng vacxin hiện đại nhất như sau:
+ Nhỏ mắt, mũi, mồm Lasota hoặc ND-IB lần 1 lúc gà 3-4 ngày tuổi.
+ Cho uống Lasota hoặc ND-IB lần 2 lúc gà đạt 18-24 ngày tuổi.
+ Tiêm dưới da Newcastle H1 hoặc Clone 45 lúc gà đạt 35-38 ngày tuổi.
+ Riêng đối với gà nuôi trên 2 tháng phải tiêm lại H1 hoặc Clone 45 lúc 90 ngày tuổi và 15 ngày trước khi gà vào đẻ.

Read more...

Bệnh Khô Chân Ở Gà, Khô Mỏ, Xù Lông, Chết Sớm.

Gia cầm sau khi ấp nở sẽ được chuyển qua giai đoạn úm. Rất nhiều bà con chủ quan trong giai đoạn này dẫn tới hiện tượng chết sớm, khô chân ở gà, khô lông, khô mỏ, kém ăn ở con con. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ hiện tượng này để bà con tránh được thiệt hại đáng tiếc.

Bệnh khô chân ở gà con mới nở

1. Biểu hiện của bệnh khô chân ở gà

– Con con lúc mới đem đi úm rất nhanh nhẹn, hoạt bát. Sau một thời gian chúng đứng hoặc nằm im một chỗ, mắt nhắm nghiền, lười ăn.
– Phía da chân và mỏ khô quắt, gia cầm gầy còm, teo tóp, lông xù lên. Tỷ lệ chết khoảng 5 đến 30%.
– Độ tuổi mắc bệnh từ 2-15 ngày tuổi, chủ yếu là từ 2-7 ngày tuổi.

2. Mổ khám xác nhận bệnh khô chân ở gà

– Xác gia cầm rất nhẹ, lông xù.
– Diều không có thức ăn.
– Bụng nặng, lòng đỏ không tiêu.
– Ruột quắt, viêm cata đến viêm xuất huyết.
– Các cơ quan khác không có gì biểu hiện gì đặc biệt

3. Nguyên nhân gây bệnh.

– Sai sót trong quá trình ấp trứng hoặc sử dụng máy ấp chất lượng kém. Nhiệt độ không đều dẫn tới con non yếu.
– Quá trình vận chuyển từ lò nở tới chuồng nuôi không đảm bảo kỹ thuật.
– Thiếu nhiệt hoặc thừa nhiệt trong quá trình úm.
– Cho gà ăn muộn, thiếu chất hoặc mất cân bằng dinh dưỡng.
– Máng ăn, máng uống không hợp lý. Gia cầm không được ăn uống đều, dẫn tới con to con nhỏ, không đều đàn.
– Không sử dụng thuốc úm chuyên dụng, gà dễ bị tiêu chảy, thương hàn, bệnh lỵ, bệnh di truyền từ phôi.
– Môi trường úm gà bẩn, không thường xuyên thay nền, nhiều mầm bệnh phát sinh trong khi sức đề kháng của con non còn rất yếu.

4. Cách điều trị bệnh gà con khô chân, khô mỏ, chết non.

– Phải duy trì nhiệt độ úm hợp lý cho gà, vịt, ngan con: Ngày đầu đủ 37°C, sau mỗi ngày giảm đi 1oC sao cho đến lúc 7 ngày tuổi nhiệt độ vẫn đủ 30 – 31°C, đến ngày thứ 14 đủ 25 – 27°C và từ ngày 21 trở đi tùy theo thời tiết, nhưng ban đêm phải đảm bảo nhiệt độ không dưới 22°C.
– Phải cho ăn thức ăn đủ chất, đặc biệt là đạm phải đủ 22% (thức ăn khởi động), cho ăn nhiều lần, mỗi lần một ít, cho ăn ngay sau khi đưa vào quây úm và sau khi được uống nước thuốc. Thời điểm cho ăn tốt nhất là 24h sau khi nở.
– Đối với gà, phải nhỏ ngay vacxin Gumboro A hoặc 228E và ND-IB vào mồm, mũi, nếu đã dùng rồi thì vẫn phải nhắc lại, không phụ thuộc vào thời gian trước đó đã dùng. Đối với vịt, ngan: nhỏ mồm ngay vacxin chống viêm gan.
Cách 1:
+ T. Colivit: 20g/100kg gà, vịt, ngan, ngỗng/ngày.
+ T. Cúm gia súc: 20g/100kg gà, vịt, ngan, ngỗng/ngày.
+ Super-Vitamin: 20g/100kg gà, vịt, ngan, ngỗng/ngày.
Cả 3 loại pha chung với nước hoặc trộn đều trong thức ăn cho uống hoặc ăn cả ngày, dùng liên tục 3 ngày là khỏi.
Cách 2:
– Thay T. Colivit bằng T. Umgiaca hoặc T. Avimycin hoặc T. Flox. C hoặc TIC. Các thuốc khác giữ nguyên.

5. Phòng bệnh

– Nếu ấp bằng máy ấp trứng, cần chọn thương hiệu chất lượng. Máy tốt sẽ duy trì được nhiệt độ ổn định trong suốt quá trình ấp. Con con khỏe mạnh, sức đề kháng cao. Anh chị có thể tham khảo Máy ấp trứng Ánh Dương của công ty chúng tôi ở đây. Chúng tôi đang có chương trình tặng thuốc úm chuyên dụng cho khách hàng đặt mua trong hôm nay. Đây là loại thuốc cực tốt, tỉ lệ sống tới 98%, không bán lẻ, chỉ bán cho trang trại.
– Thực hiện đúng quy trình vận chuyển, úm gà, vịt, ngan như sau:
+ Khi vận chuyển phải có xe chuyên dụng, tránh gió, tránh rét, tránh ướt.
+ Về đến cơ sở chăn nuôi đã chuẩn bị sẵn quây, chuồng úm với đủ các điều kiện: Quây úm có đèn, có đủ nhiệt 37°C, có đủ máng ăn, máng uống, chất độn khô.
– Phải cho gà, vịt, ngan uống ngay toa thuốc dưới đây trước khi ăn và sau khi thả gia cầm vào quây hoặc chuồng úm.
+ 2g T. Umgiaca hoặc T. Colivit.
+ 1,5g T. Cúm gia súc hoặc Anti-Gum.
+ 1,5g Doxyvit hoặc Super-Vitamin.

Tất cả 3 loại thuốc trên pha vào 1 lít nước cho gia cầm uống tự
do liên tục trong 3 ngày đêm đầu.
– Sau khi uống đủ nước 10-15 phút thì cho gia cầm ăn, chú ý phải đủ số mẹt, máng ăn để sao cho tất cả gà, vịt, ngan được ăn cùng một lúc. Thức ăn phải đủ 22% đạm và đủ chất dinh dưỡng, khoáng và vitamin. Nguyên tắc: cho ăn ít một, chia làm nhiều lần trong ngày đêm, nuôi úm phải thực hiện nuôi 3 ca (tức 24/24 giờ).

Hi vọng những kiến thức trên sẽ giúp ích được cho bà con trong quá trình chăn nuôi.

Read more...

Điều Trị Bệnh Cắn Mổ Nhau Ở Gà

Bệnh gà cắn mổ nhau là hiện tượng rất phổ biến khi chăn nuôi gà, nhất là trong điều kiện nuôi tập trung, nuôi công nghiệp. Các con trong đàn tự cắn mổ nhau dẫn tới xước da, chảy máy, trụi lông, gày gò chậm lớn, mẫu mã xấu. Hiện tượng cắn mổ nhau ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất và doanh thu trong chăn nuôi gia cầm.

Trong bài viết này, công ty Ánh Dương sẽ cùng bà con phân tích nguyên nhân và giải quyết triệt để hiện tượng này.

Bệnh gà cắn mổ nhau

1. Biểu hiện gà cắn mổ lẫn nhau.

Hiện tượng gà cắn mổ nhau xuất hiện ở hầu hết các loại gia cầm, thủy cầm nhưng nhiều nhất là ở gà. Biểu hiện: gia cầm rụng lông một cách bất thường. Lúc đầu là lông cánh, lưng, cổ ngực rồi đến vùng đuôi và hậu môn.Kèm theo là những vết xước trên toàn thân dẫn tới loét, nhiễm trùng.

Hậu quả của mổ cắn phụ thuộc vào nơi chúng rỉa: Từ trụi lông đến chảy máu, rách da, rách thịt, nếu ở hậu môn thì chúng lôi cả ruột, ống dẫn trứng ra để ăn. Những gia cầm bị mổ chảy máu hoặc rách da, rách thịt đều sẽ chết nếu không nhanh chóng tìm được nơi trú ẩn an toàn.

Ban đầu, chỉ có vài con rượt đuổi, cắn nhau. Khi một số con bị thương, sẽ kích thích cả đàn. Nếu không can thiệp nhanh sẽ bùng phát trên cả đàn.

2. Các nguyên nhân gây ra hiện tượng cắn mỗ nhau

Nhóm 1: Do thức ăn không đảm bảo, cho ăn không đúng cách gồm:

+ Thức ăn thiếu chất hoặc thừa chất.
+ Mất cân đối giữa đạm, năng lượng, các nguyên tố vi lượng và vitamin.
+ Để gà, vịt, ngan đói quá hoặc khát quá (khoảng cách giữa các bữa ăn, bữa uống quá lâu).
+ Giai đoạn gia cầm đẻ sẽ cần đủ lượng và chất để bù đắp lại sự thiếu hụt do phải huy động nguồn dự trữ của bản thân cho sự hình thành và phát triển trứng, nhưng nếu không được đáp ứng sẽ sinh ra mổ linh tinh.

Nhóm 2: Do các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng không đảm bảo, mất cân bằng.

+ Ánh sáng quá thừa.
+ Mật độ quá đông.
+ Độ ẩm không khí cao, thông thoáng kém.
+ Chất độn chuồng bị mốc, chuồng nuôi chứa nhiều khí độc như: H2S, NH3, CO2 gây ngạt hoặc kích thích phản xạ khó chịu.
+ Tiếng ồn liên tục gây bứt rứt cho gia cầm.
+ Chậm thu trứng, trong ổ đẻ hoặc trên dây chuyền trứng có nhiều trứng non, vỏ mềm, bị dập vỡ hoặc có dính máu đỏ gây hấp dẫn gia cầm khác.

Nhóm 3: Vì nguyên nhân nào đó gây chảy máu, có màu đỏ trên cơ thể làm hấp dẫn các con khác đến rỉa như:

+ Do đẻ trứng to quá (trứng 2 lòng) làm rách tử cung gây chảy máu ở hậu môn hoặc lộn nội mạc tử cung ra ngoài.
+ Do cầu trùng cấy ghép Coli bại huyết, ỉa ra máu, máu dính đít.
+ Do chảy máu chân lông ống cánh, đuôi khi bị bệnh thiếu máu truyền nhiễm, hay do một nguyên nhân khác.
+ Do ngoại ký sinh trùng gây ngứa khiến chính gà, vịt, ngan đó quay lại mổ rỉa và làm rách da, rách thịt, tự gây chảy máu.

3. Cách điều trị

– Sau khi tìm được nguyên nhân, cần xử lý và phối hợp đồng thời các biện pháp sau:
+ Truy tìm những con bị mổ, nhốt riêng và làm lành vết thương bằng cách bôi xanh Methylen vào chỗ bị mổ.
+ Phát hiện ra những con chuyên đi mổ, cắt mỏ và nhốt riêng chuồng khác.
+ Tách đàn, giảm mật độ nuôi nhốt càng thưa càng tốt.
+ Giảm cường độ ánh sáng. Thông gió cho chuồng trại thoáng mát, ấm áp.
+ Cho ăn uống đều bữa.
+ Thay chất độn (nếu có thể), dọn dẹp chuồng nuôi thường xuyên.
+ Cân chỉnh lại chất lượng thức ăn.
+ Bổ sung ngay 6g Super-Vitamin hoặc 6g Doxyvit. Thái/1kg thức ăn, cho ăn liên tục 3 tuần.
+ Để trong chuồng hoặc ngoài sân chơi các chậu đá nghiền thành sỏi nhỏ, gạch non, cát vàng, vôi bột để chúng tự tìm kiếm và bù đắp Ca, P và một số chất khác.

Read more...

Bệnh Tụ Huyết Trùng Ở Gà: Nguyên Nhân, Điều Trị Và Cách Phòng Tránh

1. Bệnh tụ huyết trùng là gì?

– Tụ huyết trùng (Pasteurellosis) là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm mang tính cục bộ ở tất cả các loại gia súc, gia cầm với các biểu hiện đặc trựng của nhiễm trùng huyết toàn thân và có tỉ lệ tử vong rất cao. Ở gia cầm bệnh có tên khoa học là Pasteurellosis avium hoặc Cholera avium.

Bệnh tụ huyết trùng ở gà

2. Nguyên nhân gây bệnh

– Bệnh tụ huyết trùng do vi khuẩn Gram âm Pasteurella multocida có 3 chủng 1, 3 và 4 gây ra, dưới tác động hỗ trợ của các yếu tố stress gây hại.

3. Loài gia cầm mắc – Gà, vịt, ngan, ngỗng, cút, chim.

4. Tuổi gia cầm mắc bệnh

– Nếu bệnh tự phát trong đàn gia cầm thì bao giờ cũng sau 3 tuần tuổi trở lên, nhưng bệnh chỉ xảy ra lác đác, lẻ tẻ, cục bộ.
– Nếu bệnh được lây lan từ bên ngoài vào cơ sở chăn nuôi thì bệnh có thể nổ ra bất cứ lứa tuổi nào và có tính dịch cao, lây lan nhanh ra diện rộng.

5. Phương thức truyền lây

Tự phát hoặc qua đường miệng.

6. Triệu chứng của bệnh tụ huyết trùng

– Bệnh tụ huyết trùng có 3 thể biểu hiện:

6.1. Thể quá cấp

– Đột ngột nhảy xốc lên, lăn quay, giãy chết hoặc sáng ra đã thấy gà chết trên ổ đẻ hoặc ở góc chuồng

6.2. Thể cấp tính

– Thân nhiệt đột ngột tăng cao 43-440C.
– Gia cầm mệt lả, 2 cánh sã xuống hoặc nằm im không cử động, hai mắt nhắm nghiền, chảy nước mũi, nước mắt, nước miệng.
– Lông xù, mào, tích thâm tím.
– Gia cầm thở rất khó, chán ăn hoặc bỏ ăn.
– Tiêu chảy đôi khi có gợn máu.
– Gia cầm bệnh chết rất nhanh, xác chết béo nhưng thịt nhanh thâm và dễ bị thối rữa. Bệnh có xu thế lây lan nhanh sang con khác.

6.3. Thể mãn tính

– Mào, tích bị phù nề, sưng to, sau một vài ngày thì hình thành lỗ dò có dịch vàng đặc chảy ra rất giống như ở bệnh cúm gà.
– Viêm mí mắt, một số gà bị viêm khớp đi cà nhắc.
– Đầu có thể bị nghiêng sang một bên.
– Nếu không được điều trị kịp thời thì đa phần gia cầm bệnh sẽ chết.

7. Mổ khám

7.1. Thể quá cấp và cấp tính

– Mào tích thâm, xác chết béo, thịt thâm.
– Màng bao tim có nhiều điểm xuất huyết.
– Tim bơi trong túi dịch thẩm xuất màu vàng đặc
– Xuất huyết điểm ở vành tim, cơ tim.
– Trên bề mặt gan có nhiều điểm hoại tử vàng ngà to bằng đầu kim đến hạt kê.
– Lách sưng to vừa phải.
– Phổi bị phù nề thâm sẫm.
– Viêm phúc mạc do dập vỡ trứng non.
– Buồng trứng bị viêm thoái hóa.
– Viêm tiết dịch đoạn tá tràng.

7.2. Thể mãn tính

– Mào tích phù nề, sưng dầy, đôi khi thấy có lỗ dò, từ đó có dịch vàng đặc chảy ra.
– Viêm mí mắt.
– Viêm buồng trứng, ống dẫn trứng.
– Viêm khớp.
– Viêm ruột tiết dịch đến xuất huyết đoạn không tràng, hồi
tràng và đại tràng.
– Gan sưng to, cứng và có nhiều điểm hoại tử vàng ngà.

8. Điều trị

– Tất cả các thuốc dùng điều trị E. coli, bạch lỵ đều là thuốc đặc trị tụ huyết trùng, đó là một trong các thuốc sau:
+ Flumequin-20: 20ml/100kg P/ngày x 3 ngày là khỏi.
+ Flumex-30: 15ml/100kg P/ngày x 3 ngày là khỏi.
+ Norflox-10: 25ml/100kg P/ngày x 3 ngày là khỏi.
+ Enro-10: 25ml/100kg P/ngày x 3 ngày là khỏi.
+ T. Colivit: 20g/100kg P/ngày x 3 ngày là khỏi.
+ T. Avimycin: 20g/100kg P/ngày x 3 ngày là khỏi.
+ T. Flox. C: 20g/100kg P/ngày x 3 ngày là khỏi.
+ T. Umgiaca: 20g/100kg P/ngày x 3 ngày là khỏi.

9. Phòng bệnh

– Chú ý tránh các yếu tố stress gây hại. Nếu có sự thay đổi thời tiết, thức ăn, nước uống thì dùng một trong các loại thuốc trên với liều bằng 1/2 liều điều trị, dùng 3 ngày liên tục sẽ tránh được thiệt hại.
– Đảm bảo vệ sinh chăn nuôi thú y trong quá trình tổ chức chăn nuôi.

Read more...